Friday, September 6, 2013

SẦU ĐÂU, SẦU ĐÔNG, CÂY THUỐC TRỊ BÁ CHỨNG

SẦU ĐÂU, SẦU ĐÔNG, CÂY THUỐC TRỊ BÁ CHỨNG 02.01.2012 ĐỂ LẠI PHẢN HỒI Cây sầu đâu Cây sầu đâu được các nhà khảo cứu Ấn Độ và Pakistan chú ý trước tiên và rất nhiều vì nó đã được kê khai vào những môn thuốc cổ truyền các nước ấy. Có tác dụng trong lãnh vực chống viêm, kháng vi khuẩn, kích thích miễn dịch, nó được tôn vinh là “cây dược phẩm trong làng” (2). Thật ra cây sầu đâu mọc ở nhiều nơi, ở Việt Nam cũng như ở các nước khác, từ châu Á qua châu Phi, đặc biệt ở Nigeria. Vào thập niên 30, máy móc phân tích chưa tinh vi, công thức các hóa chất chưa được biết rõ ràng. * * * Sương chiều phủ kín chân không, Cuối thu hoa nở sầu đông muộn màng, Lòng nghe sao quá bẻ bàng, Sợ mùa đông đến hoa tàn sầu đông. (Nguyễn Cơ – hoathonhac.blogspot.com) SẦU ĐÂU, SẦU ĐÔNG, CÂY THUỐC TRỊ BÁ CHỨNG Sầu đâu là một cây quen thuộc ở Việt Nam. Nó mọc ở ngoài Bắc cũng như ở trong Nam, trên đồi núi cùng suốt miền đồng bằng. Ông cha ta đã từng hái lá bỏ vào chum vại để trừ sâu, nấu nước tắm súc vật, sắc thuốc từ vỏ thân, vỏ rễ, hột, lá để tẩy giun, diệt trùng, chữa bệnh ngoài da hay viêm âm đạo. Tuy đã được dùng từ lâu trong hệ thống Ayurvedic bên Ấn Độ, trình bày trong các sách y khoa Phạn tự thời xưa như Susrutasanhita, được thế giới chú ý từ hơn một nửa thế kỹ nay, mãi đến gần đây nó mới được các phòng thí nghiệm, các hãng kỹ nghệ khảo cứu sâu rộng để khai thác những hoạt chất độc đáo của nó. Một số lớn luận án tiến sĩ, các văn bằng sáng chế đã nghiên cứu cặn kẽ cấu trúc, thành phần hóa học cùng những tính chất dược lý của những hoạt chất ấy. Không hiếm những bản tổng kết đăng ở các báo và những sách chuyên môn xuất bản riêng biệt gom góp những kết quả đạt được. Các nhà khảo cứu còn tổ chức nhiều hội nghị quốc gia như bên Ấn Độ hay quốc tế : Rottach Egern (1980), Rauisch Holzhausen (1983), Eschborn (1984) Sofia (1985), Nairobi (1986),… để trình bày, trao đổi, thảo luận về những cơ chế tổng hợp hay tác dụng của những hoạt chất lên các cơ quan sinh vật. Năm 1995, cả một bộ sách dày hàng trăm trang gồm hàng chục chương đi vào chi tiết của mọi lãnh vực khảo cứu (1). Trong rất lâu, vấn đề danh từ chưa được thống nhất. Tên các hóa chất được đặt ra rất hỗn độn, không theo một hệ thống hay một trật tự nào. Ở Việt Nam ta ngay cả tên cây cũng chưa được định nghĩa rõ ràng. Cuốn Tự điển Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội (Hà Nội 1994, tr.824) chưa phân biệt cây xoan và cây sầu đâu. Ở Huế cũng như ở miền Nam tên còn được thi vị hóa thành sầu đông. « Hoa sầu đông nở trắng, Hương xuân thầm lan xa. Nghe tháng giêng Đông Hà, Lên màu hoa tím nhạt » (Võ Quê). Trong cuốn Cây thuốc Việt Nam của Viện Dược liệu, Nxb Khoa học và Kỹ thuật (Hà Nội 1990, tr.97, 263), cũng như trong các cuốn Thuốc trị bệnh từ cây cỏ hoang dại của Lê Quý Ngưu và Trần Như Đức, Nxb Thuận Hóa (Huế 1995, tr.394), Les plantes médicinales au Vietnam của ACCT (Paris 1990, tr.151), cả hai tên xoan và sầu đâu (hay sầu đau) đều được đặt cho cây Melia azedarach. Xin tạm gác một bên những tên xoan rừng, sầu đâu rừng, sầu đâu cứt chuột dành cho cây Brucea javanica (Linn.) Merr. thuộc họ Thanh thất Simaroubaceae và tên sadao hay sầu đâu Thái Lan đặt cho câyAzadirachta indica siamensis. Theo Giáo sư Phạm Hoàng Hộ trong cuốn Cây cỏ Việt Nam (Montréal 1992, Q.II, t.1, tr.487) sầu đâu là Azadirachta indica Juss., sầu đâu cao là Azadirachta excelsa (Jack) Jacobs, còn xoan là Melia azedarach L., xoan đào là Melia azedarach cultivar tosendam, tất cả thuộc họ Xoan Meliaceae. Trong sách Những cây thuốc thông thường, Nxb Đồng Tháp (Sa Đéc 1987, tr. 265) Võ Văn Chi cũng gọi Azadirachta indica là sầu đâu, còn thêm tên xoan đào. Sau cùng, Giáo sư Đỗ Tất Lợi trong cuốn Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nxb Khoa học và Kỹ thuật (Hà Nội 1986, tr.181,1147) thì cho sầu đâu là Melia azedarach, thêm vào các tên xoan trắng, xuyên luyện, khổ luyện, đốc hiên,… Sau đó ông phân biệt Melia azedarach hay Melia indica là xoan Ấn Độ, còn Melia toosendam là xoan Tứ Xuyên hay xoan Tây Bắc. Kiểm điểm những cách gọi vừa thấy, dựa lên đề nghị của Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, trong khi chờ đợi ý kiến của các nhà thảo mộc, xin tạm thời thống nhất các tên : * Sầu đâu là Azadirachta indica A.Juss. Người Ấn Độ trước kia đặt tên bakayan khác với nim (hay neem ) từ chữ phạn mahanimba. Người Telugu có tên vepa. Âu Mỹ dùng danh từ china berry, china tree, neem tree hay margosa.Vì vậy hóa chất có những tên bakayanic acid, neobakayanin,… nimbin, nimbinon, nimbinal,… margosa, margocin, margoson, .. azadirachtin, azadirachtol, azadirachion,… vepaol. * Xoan hay xoan Ấn Độ là Melia azedarach Linn. Người Ấn Độ gọi nó là djharek, còn Âu Mỹ thì có tên berry tree, có khi cũng gọi china berry. * Xoan Tứ Xuyên là Melia Toosendam Sieb. et Zucc. Cây neem bên Miến Điện Cây sầu đâu được các nhà khảo cứu Ấn Độ và Pakistan chú ý trước tiên và rất nhiều vì nó đã được kê khai vào những môn thuốc cổ truyền các nước ấy. Có tác dụng trong lãnh vực chống viêm, kháng vi khuẩn, kích thích miễn dịch, nó được tôn vinh là “cây dược phẩm trong làng” (2). Thật ra cây sầu đâu mọc ở nhiều nơi, ở Việt Nam cũng như ở các nước khác, từ châu Á qua châu Phi, đặc biệt ở Nigeria. Vào thập niên 30, máy móc phân tích chưa tinh vi, công thức các hóa chất chưa được biết rõ ràng. Khảo cứu có hệ thống chỉ bắt đầu với những công tác của S. Siddiqui ở Viện Đại học Karachi (Pakistan) từ những năm đầu thập niên 40. Hoạt chất nằm trong đủ mọi bộ phận của cây, từ hoa, lá, trái, hột qua thân, nhựa, cành, rễ. Ứng dụng của chúng bao gồm các lãnh vực canh nông, y khoa và ngay cả chút ít kỹ nghệ : bảo vệ mùa màng, chữa đủ thứ bệnh, chế tạo kính men. Việc khảo cứu tính chất trừ khử sâu bệnh đã được tăng gia những năm gần đây, mỗi năm hàng chục bản báo cáo trình bày tác dụng các hoạt chất của cây lên các loài sâu bọ. Hoạt chất được chiết xuất nhiều nhất là từ trái cây, phần lớn ở những trái chín tươi. Nhiều liều thuốc dùng ngay phần chiết thô. Một số lớn hóa chất được chiết từ hột, trung bình trọng lượng chiếm 10% của trái. Nhiều nghiên cứu chỉ cách ép hột ra dầu (thường được gọi neem oil, 45%) rồi mới chiết xuất từ dầu. Dung môi thường được dùng là rượu (methanol, ethanol), aceton, ether, ether dầu hỏa, chloroform, … và nước. Cũng có phương pháp tách từ dầu ra một chất đắng vô định hình (25%) cống hiến hoá chất qua các phép rửa, lọc, làm ròng. Hóa chất quan trọng đầu tiên được chiết ra là azadirachtin hay ấn khổ luyện tử tố. J.H. Butterworth và D.E. Morgan ở Viện Đại học Keele bên Anh ngâm hột sầu đâu trong ethanol rồi dùng phép sắc ký trên alumin tách ra một chật vô định hình. Sau nhiều lần lọc qua sắc ký lớp mỏng và cho tan hòa trong carbon tetrahydrochlorid, azadirachtin kết tinh thành bột, năng suất 0,7g /kg. Nhưng muốn có azadirachtin thật ròng (hơn 99%) thì phải cho nó qua máy sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC. Azadirachtin ròng cần thiết để xác định cấu trúc của nó qua các phương pháp cọng hưởng từ hạt nhân NMR, quan tuyến X, phối ký MS, đánh dứt một cuộc thảo luận giữa K. Nakanishi, W . Kraus và H.B. Broughton trong gần 15 năm sau 1975. Ngày nay, nhiều azadirachtin đồng vị đã được chiết xuất : loại A và B có nhiều nhất, C và D chỉ có ít. Dùng phép HPLC thì đồng thời với các azadirachtin kia, những nimbin, nimbolid, ohchinolid, deacetynimbin, azadiradion, salanin, ba azadirachtin H, I, K cùng hydroxy norazadirachtin cũng được chiết ra. Sau azadirachtin, phân tử được kảo cứu cặn kẽ nhất về cấu trúc là nimbin. Azadirachtin và các hoạt chất khác của cây đã được thử nghiệm lên nhiều loại sâu bọ, từ châu chấu, bọ hung qua dế mèn, sâu đậu, sâu lúa,… Tác dụng đầu tiên của là xua đuổi hoặc ngừa ăn trước khi sâu bọ cắn vào lúa, đậu hay trái cây. Nếu lỡ ăn vào thì một loạt phản ứng khác tác dụng lên nền sinh lý thần kinh và cơ thể chúng chẳng hạn để dừng chậm hay ngăn chặn quá trình biến thái của nhộng trần. Cả bốn azadiractin đều có tác động tương tự lên sâu đậu và bọ hung. Một phần các bản báo cáo chỉ định rõ ràng các hoạt chất, một phần cho biết là một phần chiết nhưng không biết từ bộ phận nào của cây hay trình bày qua một tên thương mãi : Margocide OK, CK, Neem-Azal, RB-a, RB-b, hoặc Margosan-O, Azatin, RH-99099, Neem PTI-EC4, NSE,… Trong y khoa, nhờ cống hiến chất bổ, làm se nên vỏ cây được dùng khi buồn nôn, oẹ mửa (16), để chữa tăng tiết dạ dày, loét thực quản, loét tá tràng (24). Phần chiết của hột có tác động lên tinh trùng nên được dùng ngừa thai (19). Lá dùng để chữa bệnh vàng da, đau gan, eczema (7). Hoạt chất diệt trùng, chống viêm thường được chỉ định trong phần chiết : nimbolid, nimbidin và nimbic acid trong hột, polysaccharid, nimbionon và nimbionol trong vỏ, alkenal, methylbutenol, flavanol glycosid trong lá, amin acid trong lá và vỏ. Nimbonon và nimbinol đã được đem thử với các vi khuẩn Gram dương như Bacillus subtilis, Staphylococcus epidermicis, S. aureus, và các vi khuẩn Gram âm nhưKlebsiella ozaen cùng khác vi khuẩn S. citreus, Streptococcus lactis, Acinetobacter calcoaceticus (15). Bên phần nimbolid thì tác dụng rất mạnh lên S. aureus, S. coagulase cũng như nimbic acid lên S. aureus, B. subtilis, S. coagulase và Diphtheroidae (9). Tính chất gây kháng thể (18), chữa loét, khối u (12,18), giảm hạ đường trong máu (23)đã được đề cập đến. Một tính chất cũng khá quan trọng là diệt muỗi, chữa trị sốt rét. Chiết từ lá, isonimbocinolid đã được thử lên Aedes aegypti (11), alcan Me(CH2)nMe (n = 16,17,24,32) lên Culex pipiens fatigans (8). Chiết từ hột, dipropyl disulphid diệt muỗi Aedes aegypti. Những chất có lưu huỳnh đóng vai trò trong việc xua đuổi không những muỗi mà còn các loài sâu bọ khác như sâu thuốc lá Heliothis virescens, sâu lúa mì H. zea (14). Gedium cũng là một chất chống sốt rét hiệu nghiệm (17). Một tính chất đã từng được biết ở nước ta là dầu sầu đâu không kích thích da(20) nên phần chiết từ hoa, lá, cành, rễ đã được pha trộn với nhiều chất khác để làm thuốc bảo vệ da (4,5), xà phòng liệu pháp (21), xà phòng chữa nấm da (22). Phần chiết từ hột được dùng để chữa da đầu, bảo dưỡng tóc, phòng ngừa tóc rụng (6). Còn phần chiết từ lá, gỗ, vỏ, thân pha với ethanol 90% thì được dùng trong việc phòng ngừa và chữa trị viêm lợi, viêm khớp răng (3). Qua một lãnh vực khác, tro gỗ thân cây được dùng trong kỹ nghệ đồ gốm : nhờ kích thước đúng mức, bản chất vô định hình, do đó khả năng phản ứng lớn, người ta đã đem nó thay thế calcite trong việc chế tạo kính, men phải nung lên đến 1250 độ. Hoa sầu đâu Sau cùng, còn có một bộ phận của cây ít được nói đến là hoa. « Rồi mỗi sớm mai, khi Sầu Đông bắt đầu nở hoa đón chào một ngày mới thì cả không gian lúc ấy được bao trùm bởi một mùi hương dìu dịu làm say đắm ngất ngây lòng người. Thời gian xuất hiện và tồn tại của hoa tuy thật ngắn, chỉ thoáng chớp trong vài ngày, thì màu hoa Sầu Đông đã bước vào độ tàn và chỉ cần một làn gió nhẹ thoảng qua thôi, là rồi những bông hoa cánh mỏng lại bắt đầu rụng rơi lả tả, vương đầy cả khắp những lối đi về. Cũng mãi chung thủy với sắc màu tim tím, biêng biếc ấy, nhưng khơi gợi biết bao nỗi niềm cho lòng xót xa bùi ngùi thương cảm, như hoài mong tiếc nuối những gì của ngày đã qua, đã rời xa mãi mà không bao giờ quay trở lại. Nhưng thật kỳ lạ thay, mùi hương dìu dịu ngọt lịm của hoa Sầu Đông cứ thơm mãi, vương vấn lên làn tóc của người con gái năm nào, níu kéo bước chân ai mỗi khi ngơ ngẩn, rồi lặng yên mãi cứ đứng ngắm nhìn. Xa quê thì lòng người luôn nhớ về nơi chốn cũ. Nơi Sài thành phố thị phồn hoa, tìm mãi cũng đâu thấy được loài hoa này… Để khi Thu sang Đông qua và Xuân tới rồi Hè về. Cứ chập chùng mê mãi trong qui luật vần xoay của tạo hóa, của đất trời và của cả dòng thời gian trôi. Bỗng nhớ về màu hoa tím biếc thuở nào của năm cũ. Biết tìm đâu màu tim tím của hoa sầu đâu? Bất chợt nhớ, bất chợt mong, Sầu Đông mênh mông trong cõi lòng…» (Thanh Ly). Hoa đẹp như vậy nhưng không chỉ để ngắm. Nó đóng một vai trò quan trọng trong ẩm thực. Nụ hoa cũng như lá non được dùng để làm rau ăn với thịt heo ba chỉ, tôm thẻ luột, cá lóc nướng. Nụ hoa và lá phải nhúng qua nước sôi cho bớt đắng, thêm vào dưa leo, cà chua, xoài xanh. Ở Miền Tây nước ta và Campuchia, hoa nở vào cuối năm là một đặc sản thường được dùng để làm gỏi sầu đâu, một món ăn bài thuốc lưu truyền trong dân gian. Hoa tước bỏ xơ cùng với với khô (khô mực, khô cá – cá lóc, cá trê, cá sặc -, khô nai) được trộn với chung với củ cải, dưa leo bào mỏng và nước mắm. Vị đắng của hoa tương tự như mướp đắng, mang tính trầm, gây ra một cảm giác ngọt trên đầu lưỡi. Người ta tin món gỏi lạ miệng ăn ngon nầy, vừa béo vừa thơm, còn có tác dụng mát gan, giải độc, chữa táo bón. Như vậy, từ canh nông, y khoa, qua kỹ nghệ, ẩm thực, cây sầu đâu đã đóng góp đắc lực. Tạo hóa đã khéo tổng hợp, chỉ trong một cây mà không biết bao nhiêu là hóa chất : cây sầu đâu thật là một nhà máy hóa học tinh vi mà chưa có một thực hiện nào của con người có thể sánh được. Đặc biệt, trong số các hóa chất tự nó chế tạo ra, azadirachtin cũng như salanin, nimbin, deacetylnimbin đã từng được lập công thức thành thuốc trừ sâu bọ, bảo vệ mùa màng, hoa quả (10), bên cạnh các chất thuốc khử trùng, chống viêm, chữa loét, khối u, diệt muỗi, chữa trị sốt rét, bao dưỡng da, tóc, phòng ngừa thụ thai,… để chỉ kể một số ứng dụng thường gặp. Thật đúng là “cây dược phẩm trong làng”. Và cũng dễ hiểu khi thấy những hãng thuốc Hoa Kỳ muốn ghi văn bằng đoạt chiếm một tài nguyên quí báu như vậy, dân nhiều nước nhất là Á châu, đứng hàng đầu là Ấn Độ, lên tiếng phản đối. Nước ta chú trọng về canh nông, bị nhiều bệnh nhiệt đới hoành hành, không thể không kiếm cách khai thác một tài nguyên có một không hai như cây sầu đâu. Thông tin khoa học và Công nghệ 3 (1996) 3-24 (có sửa chữa và bổ sung) http://khoahocnet.com/2012/01/02/vo-quang-y%E1%BA%BFn-s%E1%BA%A7u-dau-s%E1%BA%A7u-dong-cay-thu%E1%BB%91c-tr%E1%BB%8B-ba-ch%E1%BB%A9ng/#more-3129

Bạn Nhà Nông 5/2013 (VTV Cần Thơ )

Bạn Nhà Nông 5/2013 (VTV Cần Thơ )

Thursday, August 8, 2013

Làm giàu từ vườn ươm cây ăn quả

Làm giàu từ vườn ươm cây ăn quả Nhờ lai ghép thành công nhiều giống cây mới mà thu nhập từ ươm đem lại lợi nhuận cho ông Huy từ 130-150 triệu đồng/năm, tạo việc làm cho 15-20 lao động, với thu nhập từ 4-4,5 triệu đồng/người/tháng... Vườn ươm cây ăn quả của gia đình ông Huy tạo việc làm thường xuyên cho 15-20 lao động Xuất ngũ năm 1991, trở về quê hương, ông Nguyễn Quốc Huy ở thôn Phúc Tân, xã Gia Tân (Gia Lộc) bắt tay ngay vào nghề ươm giống cây ăn quả. Lúc đầu vốn ít và chưa nắm vững kỹ thuật nên ông Huy chỉ lai ghép và ươm trồng giống cây ăn quả truyền thống như cam, bưởi, quýt với số lượng ít, cây giống chất lượng không cao, năng suất thấp, có vụ cây giống chết hết. Không nản chí, ông Huy đi nhiều nơi học hỏi những người làm nghề lai ghép, ươm cây giống. Cùng với sự hướng dẫn tỉ mỉ của người cha là kỹ sư nông nghiệp đã nghỉ hưu, ông Huy dần đúc rút được nhiều kinh nghiệm trong lai ghép cây giống. Không chỉ tự lai ghép thành công nhiều giống cây chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, cho năng suất cao, chất lượng quả ngon... ông Huy còn mua nhiều loại giống từ Viện Cây lương thực và cây thực phẩm về ươm tại vườn nhà. Hiện vườn ươm nhà ông Huy có 17 nghìn cây ổi trắng số 1, 5.000 nghìn cây xoài Đài Loan, 15 nghìn cây táo, 3.000 cây hồng xiêm, 2.000 cây nhãn muộn Hưng Yên, 4.000 cây đu đủ... Tiếng lành đồn xa, ngoài những khách hàng là nông dân trong tỉnh, cây giống tại vườn ươm nhà ông Huy còn được bán rộng rãi cho nông dân ở nhiều tỉnh miền Bắc. Thu nhập từ ươm cây giống đem lại lợi nhuận cho ông Huy từ 130-150 triệu đồng/năm, đồng thời tạo việc làm cho 15-20 lao động địa phương, với thu nhập từ 4-4,5 triệu đồng/người/tháng. Không chỉ làm giàu cho gia đình, ông Nguyễn Quốc Huy còn là hội viên tích cực của Hội Nông dân xã Gia Tân. Ông tận tình hướng dẫn bà con nông dân kỹ thuật trồng, chăm sóc cây ăn quả để cho năng suất, chất lượng cao. Các năm 2009-2010, gia đình ông được Hội Nông dân Việt Nam công nhận là hộ sản xuất, kinh doanh giỏi cấp Trung ương. Trước đó, từ năm 1995 đến năm 2008, gia đình ông liên tục được công nhận là hộ sản xuất, kinh doanh giỏi cấp tỉnh. http://www.vuonuom.com/tin-tuc/544-lam-giau-tu-vuon-uom-cay-an-qua.html

Làm giàu từ cây mít Thái

Làm giàu từ cây mít Thái Ông Mười bên cây mít 5 năm tuổi. Tại ấp Vĩnh Thuận, xã Vĩnh Tường, huyện Vị Thủy, hầu như bà con nông dân nào cũng thán phục ông Mười Thông Tin, một nông dân sản xuất giỏi, chuyên trồng mít Thái Changai, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Tên thật của ông là Nguyễn Văn Mười, nhưng bà con quen gọi là Mười Thông Tin vì trước đây ông đã từng là cán bộ ngành văn hóa - thông tin ở địa phương. Ông Mười tâm sự: “Trước đây tôi đã trải qua nhiều nghề, từ đi buôn đến làm ruộng, làm vườn… có lúc trồng xoài cát Hòa Lộc, nghề nào tôi cũng quyết tâm, vắt óc ra làm nhưng kết quả không như ý muốn, khiến cho vợ chồng tôi nhiều đêm trăn trở, nên trồng cây gì, nuôi con gì cho có hiệu quả trên mảnh đất nhà. Thế là trong đầu tôi đã hình thành một ý tưởng nên chọn cây mít, vì đây là mặt hàng có giá trị kinh tế cao và đang tiêu thụ mạnh”. Trước khi bắt tay vào công việc, ông đã chịu khó học hỏi, nghiên cứu và đi đó đi đây tìm hiểu về các giống mít, từ mít nghệ cao sản, mít Thái siêu sớm (tứ quý) cho đến mít Thái da xanh, mít ruột đỏ, mít Malaysia… giống nào cũng có ưu điểm riêng của nó. Tuy nhiên, làm thế nào để chọn cho được giống mít ngon, năng suất cao, chất lượng tốt, vừa ăn tươi vừa dùng để chế biến, đó mới là điều quan trọng. Vì hiện nay, tại Việt Nam, ngoài những giống mít cao sản bản địa còn có hàng chục giống mới nhập về từ nước ngoài, vàng thau lẫn lộn, có thứ cơm mỏng, có thứ cơm cứng, cơm nhão, lại có thứ xơ nhiều múi ít… rất khó phân biệt loại nào là ưu việt, loại nào phù hợp với đất đai, thổ nhưỡng cho từng vùng. Cuối cùng ông đã quyết định chọn mít Thái Changai để sản xuất. Theo ông Mười, đây là giống mít dễ trồng, phát triển nhanh, trái sai, múi to, cơm dầy, hạt nhỏ, vỏ mỏng, thơm ngon và ngọt. Hiện nay, khách hàng rất ưa thích và các nhà máy sản xuất cũng chọn loại mít này để sấy khô nên người trồng không lo đầu ra và cũng không sợ bị rớt giá. Khởi đầu năm 2005, ông Mười đã chọn được 400 gốc ghép lấy từ Ô Môn đem về hạ thổ và cây phát triển rất nhanh. Từ niềm phấn khởi đó, ông tiếp tục trồng thêm đợt 2, nâng tổng số lên 1.000 gốc trên tổng diện tích là 16,5 công. Tất cả đều phát triển rất nhanh. Ông nhớ lại: Lúc mới mang mít giống về tới nhà, nhiều người cho rằng, ông không thức thời “trồng gì không trồng lại trồng mít, có trái rồi sẽ đem đổ sông, ai mà mua!”. Bây giờ thì thực tế đã chứng minh “cây mít” mà ông chọn trong thời điểm này không sai chút nào! Chỉ sau một năm rưỡi là cây bắt đầu có trái chiếng, nhưng đợi đến cây hai năm tuổi, ông mới nuôi trái. Hiện nay, cây nào cũng ra trái no tròn, đều đặn, mỗi trái nặng từ 7-20kg, cá biệt có những trái trên 20kg. Tính bình quân mỗi gốc mít 4 năm tuổi cho khoảng 150 kg/năm, giá bán ra từ 10.000-15.000 đ/kg, tùy loại I, II và III. Tính ra mỗi gốc mít tối thiểu cũng thu về 1,5 triệu đồng/năm. Theo ông Mười, mít ra trái quanh năm, nhưng chỉ nên cho trái hai vụ/năm để cây có thời gian nghỉ ngơi. Thông thường, mỗi cây cho rất nhiều trái, thậm chí cả trăm trái nhưng cần phải tỉa bỏ những trái đầu cành và trên thân cao, chỉ giữ lại những trái ôm thân và sát gốc, tối đa khoảng 15 trái/cây nếu cây dưới 4 năm tuổi. Khi cây trưởng thành, số trái có thể nâng lên nhiều hơn. Hiện nay, tại Hậu Giang chỉ có vườn mít Thái của ông Mười là trồng với số lượng lớn, sản lượng nhiều nhất. Những lúc cao điểm, mỗi ngày ông thu hoạch từ vài trăm kilôgam đến 1 tấn trái, nhưng không đủ để giao cho các bạn hàng chuyển đi các nơi, nhất là TP.Hồ Chí Minh và Hà Nội. Ông Mười cho biết thêm: Tuy mít dễ trồng, nhưng phải thường xuyên chăm sóc, bón phân và theo dõi các loài sâu đục trái, đục thân, nhất là bệnh nấm hại cây trong vụ Đông xuân. Ngoài ra, sau mỗi lần hái trái, phải cắt bỏ bớt cành lá rườm rà để cây nhận đầy đủ ánh sáng giúp cho trái to và ngọt. Vì theo kinh nghiệm, mít càng lâu năm, trái sẽ ngọt đậm, thơm và giòn hơn mít tơ. Có thể nói, vợ chồng ông Mười là những nông dân cần cù, năng động và chịu khó, dám đầu tư và quyết tâm tạo dựng cho khu vườn ngày càng sung túc. Bất cứ ai đến tham quan vườn mít của ông cũng đều ngợi khen đây là một vườn cây đầy ấn tượng, không những trái sai oằn, đầy đặn mà bờ liếp cũng khang trang, áp dụng đúng khoa học kỹ thuật, bảo đảm môi trường sạch đẹp. Với thành tích trên, ông Mười đã nhiều năm liền được chọn là nông dân sản xuất giỏi và vinh dự nhận được giấy khen của huyện Vị Thủy. Bà Lê Thị Thanh Hoa, Trưởng khối vận xã Vĩnh Tường, nhận định: “Ông Nguyễn Văn Mười là một nông dân cần cù, chịu khó, biết áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nên vườn mít của ông năng suất rất cao so với nhiều nơi khác”. Ngoài trồng mít, ông còn kết hợp thả cá trong ao mương và nuôi gà ta theo mô hình VAC. Đặc biệt, ông đã dùng mít non và mít tuyển bỏ rồi bằm nhỏ để làm thức ăn cho gà và cá nên chi phí giảm rất nhiều. Nhờ vậy, chỉ tính riêng tiền thu nhập từ cá và gà mỗi năm cũng trên 70 triệu đồng.

Làm giàu trên đất Tây Nam Bộ

Làm giàu trên đất Tây Nam Bộ Thứ hai, 01/07/2013 - 02:07 AM (GMT+7) [+] Cỡ chữ: Mặc định Nhiều nông dân đồng bằng sông Cửu Long làm giàu từ nghề nuôi cá tra. Nhiều nông dân đồng bằng sông Cửu Long làm giàu từ nghề nuôi cá tra. Về miền Tây, những vùng quê nghèo nắng cháy da lưng, đồng khô cỏ lác, những vườn cây cỏ dại um tùm che đỉnh đầu người... của những năm đầu giải phóng đã trở thành quá khứ. Giờ đây, dưới bàn tay, khối óc cùng sự chịu thương, chịu khó của những người nông dân cần cù, một nắng hai sương, đất và quê hương miền Tây Nam Bộ đã thay da đổi thịt. Những mô hình nông dân làm giàu, những cánh đồng, vườn cây, ao cá... thu về hàng trăm triệu đến hàng tỷ đồng/năm không còn là chuyện hiếm ở vùng đất này. Hàng trăm nghìn mô hình nông dân làm giàu ở miền Tây có nét riêng đặc biệt; đó là đa dạng từ những mô hình đa canh, xen canh, thâm canh, luân canh; từ những cánh đồng lúa vàng trĩu hạt, những vườn cây trĩu quả đến những ao cá, vuông tôm, ruộng muối... Tất cả tạo nên bức tranh tổng thể của một miền Tây phát triển, một đồng bằng sông Cửu Long (ÐBSCL) đang vươn mình cùng cả nước xây dựng nền kinh tế nông nghiệp bền vững. Về đất Sóc Trăng, một trong những tỉnh mới chia tách còn nhiều khó khăn nhất vùng ÐBSCL, chúng tôi không khỏi cảm phục trước những mô hình nông dân làm giàu hiệu quả. Từ trung tâm TP Sóc Trăng đến vùng tôm - lúa ở xã Ngọc Ðông, huyện Mỹ Xuyên (Sóc Trăng), rẽ vào đường nhánh xuyên qua cánh đồng tôm - lúa, chạy quanh co chừng 30 km mới tới Hợp tác xã (HTX) lúa - tôm Hòa Lời, một trong những mô hình điểm sáng nhất trong phong trào phát triển nông nghiệp của nông dân tỉnh Sóc Trăng nhiều năm qua. Tiếp chúng tôi trong căn nhà khang trang, Chủ nhiệm HTX Mai Văn Chánh cho biết: Trước đây, nông dân vùng này chỉ trông cậy vào một vụ tôm, nhưng lại mất mùa thường xuyên. Cuộc sống của phần lớn bà con khá bấp bênh, nhiều gia đình rơi vào cảnh nợ nần. Vài năm trước, lúc nào chúng tôi cũng canh cánh trong lòng nỗi lo làm sao để gia đình mình và bà con nơi đây thoát khỏi cảnh đói nghèo, vươn lên khá, giàu trên vùng đất Ngọc Ðông này. Ông Chánh nhớ lại: "Thấy một số nơi có vùng đất lợ, xâm nhập mặn theo chu kỳ nhưng vẫn có thể canh tác lúa, nhất là ở tỉnh Kiên Giang, cho nên tôi đã bàn với anh em thử canh tác xen canh giữa cây lúa và con tôm xem sao. Con tôm sẽ vẫn là nguồn thu chính nhưng chính nó giúp cải tạo nguồn nước cho cây lúa phát triển. Nếu lúa tốt thì mình có thêm thu nhập, nhưng nếu có cho năng suất thấp thì cũng còn con tôm. Ðiều quan trọng là sau khi thu hoạch một vụ tôm, thường xuyên cho nước ra vào ruộng, cứ như vậy kéo dài khoảng nửa tháng để rửa mặn trên đồng ruộng thì mới bắt tay vào làm một vụ lúa. Cuối cùng, bà con nơi đây quyết không bỏ con tôm mà chọn mô hình một vụ tôm, một vụ lúa. Hiệu quả mang lại từ mô hình này đã thấy rõ". Ði nhiều nơi tìm giống, học hỏi kinh nghiệm canh tác, kỹ thuật xử lý nguồn nước, bón phân, xịt thuốc... cuối cùng 30 người đầu tiên tham gia làm xã viên trong HTX đã chọn một loại giống lúa kháng rầy sâu bệnh, chịu mặn; xuống giống đồng loạt để né rầy. Niềm vui ấy còn được nhân lên gấp bội khi chỉ vài vụ canh tác hiệu quả, Công ty cổ phần Gentraco tại TP Cần Thơ liên kết với HTX bao tiêu luôn hạt lúa làm ra, tạo đầu ra càng ổn định hơn cho cây lúa trên đồng ngập mặn Ngọc Ðông này. Chỉ riêng gia đình ông Chánh, sau chưa đầy 10 năm phát triển, với 1,7 ha đất canh tác, mỗi năm luân canh vụ tôm - vụ lúa, có tổng thu nhập hơn 320 triệu đồng. Riêng lúa sản xuất theo quy trình GlobalGAP thì bán cao hơn giá thị trường 20%. Ông Chánh đã xây được một căn nhà hơn 500 triệu đồng, mua sắm đầy đủ tiện nghi, lo cho hai con ăn học. Từ đây, hàng nghìn nông dân ở các xã chung quanh cũng đã làm giàu từ mô hình tôm - lúa trên vùng đất lợ như ông Chánh, nhiều hộ có "của ăn của để". Chia tay mô hình lúa - tôm ở Sóc Trăng, ngược dòng sông Hậu, về tỉnh An Giang, một trong những địa phương có nhiều mô hình canh tác đất nông nghiệp hiệu quả, trong đó, các mô hình xen canh hai lúa một màu hay chuyên canh lúa đặc sản, nếp thơm, vườn rừng kết hợp chăn nuôi hay ruộng - vườn - ao - chuồng khép kín... đã trở thành điểm sáng trong phong trào nông dân làm giàu của khu vực và trong cả nước từ những năm đầu đổi mới. Trên những vùng đất cao, phèn nặng, vừa khai phá hơn 10 năm qua: Lương Phi, An Tức, Lương An Trà (huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang), tưởng chừng là vùng đất chết nhưng nay đã trở thành vùng đất vàng với mô hình xen canh hai lúa một màu hiệu quả. Trên cánh đồng xã An Tức, anh Trần Văn Phước đang cùng hàng chục nhân công xuống giống cây dưa hấu xen canh giữa hai vụ lúa đông xuân - hè thu, cho biết: "Nếu ai từng biết về đất này hơn chục năm về trước khó mà nghĩ được có thể xen canh hai lúa một màu. Cây lúa giờ đã cho năng suất bình quân từ năm tấn đến bảy tấn/ha, còn dưa hấu cũng cho thu hoạch mỗi vụ ít nhất từ ba đến sáu triệu đồng/công, vụ trúng giá lên đến cả chục triệu đồng/công. Nếu tính bình quân, đất nông nghiệp ở vùng này giờ cho thu nhập mức bình quân cũng ngót nghét 40 đến 60 triệu đồng/ha". Chuyện làm giàu thành công của người nông dân nơi đây cũng phải nhờ việc ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào canh tác cùng sự năng động trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Ðó là việc nông dân đồng lòng cùng Nhà nước, chính quyền địa phương xây dựng hệ thống kênh mương nội đồng, thau chua, rửa phèn. Hội Nông dân các cấp triển khai chương trình khuyến nông, ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào đồng ruộng. Và chính sự chuyển biến mạnh mẽ trong tư duy làm ăn, những ruộng lúa thuần nông bắt đầu xuất hiện và giờ đây, vùng đất phèn miền núi Tri Tôn đã có thể canh tác ba vụ lúa/năm và cả xen canh hai lúa một màu, đặc biệt là đã thành công với nhiều trang trại canh tác lúa giống hàng đầu của tỉnh. Về chuyện làm giàu trên vùng "đất chết" một thời, vua lúa giống Tư Liêu (Lê Minh Liêu, thương binh hạng 4/4, ngụ xã Lương Phi, Tri Tôn, An Giang) kể: "Vùng này ngày trước gần như là vùng "đất chết", nhờ Nhà nước hỗ trợ, bà con nông dân mạnh dạn tiến hành áp dụng các biện pháp xử lý vôi, phân theo hướng dẫn của ngành nông nghiệp, nhất là các biện pháp cấy, sạ hàng hiệu quả. Từ đó, những ruộng lúa giống đã hình thành, không chỉ giúp bà con có nguồn giống tốt mà còn tăng nguồn thu nhập đáng kể". Từ năm 2005 đến nay, những công ty, doanh nghiệp tư nhân, trang trại nhân lúa giống quy mô như Tiêu Liêu, Sáu Ðức, Bình Binh... đã trở thành những mô hình làm giàu tiêu biểu trong phong trào nông dân sản xuất kinh doanh giỏi ở tỉnh An Giang. Chia tay những ruộng đồng, con tôm ở Sóc Trăng, An Giang, qua đất Ðồng Tháp ven dòng sông Tiền, những năm qua, dưới sự hỗ trợ từ các cấp Hội Nông dân, ngành chức năng, chính quyền địa phương, phong trào nông dân làm giàu nơi đây cũng khá đa dạng. Thăm những trang trại trồng hoa kiểng nức tiếng của nhà nông xứ Sa Ðéc đến những vườn cam quýt ngọt lịm, chín vàng trĩu quả miệt Lai Vung mới thấy hết chuyện làm ăn của bà con cũng như đời sống nhân dân vùng đất Cửu Long ngày một thay da, đổi thịt. Về Sa Ðéc, không khó để tìm gặp những triệu phú trồng hoa đất này. Là nghề truyền thống cho nên nông dân Sa Ðéc đã thật sự trở thành những chuyên gia của mô hình làm giàu từ cây hoa ở đất miền Tây. Chị Phạm Thị Liễu, một nông dân có nhiều năm trong nghề trồng hoa, cây kiểng ở Tân Quy Ðông cho biết, với diện tích gần hai ha đất trồng hoa, cây kiểng quanh năm, chị thu lợi hằng năm hơn 200 triệu đồng, đủ trang trải trong gia đình, nuôi con ăn học và có của dư của để. Ba năm qua, chính quyền thị xã Sa Ðéc đã xây dựng một thương hiệu cạnh tranh thật sự cho hoa, cây cảnh hình thành. Hiện có hơn 1.500 hộ trồng hoa, cây cảnh với hơn 1.000 chủng loại hoa, cây cảnh khác nhau, tạo nên một nét riêng độc đáo rực rỡ sắc mầu bên dòng sông Tiền. Bình quân mỗi ha trồng hoa, cây cảnh thu lãi hơn 200 triệu đồng/năm, lãi gấp 5 đến 10 lần trồng lúa. Về đất Lai Vung, gặp nhà vườn Trần Văn Tấn, một nông dân đã nhiều năm canh tác quýt, kể: "Cây quýt đường, quýt hồng, cam mật, cam sành... đã trở thành thương hiệu cho vùng đất Lai Vung. Tuy nhiên, ngày trước, thế hệ cha ông chỉ canh tác theo truyền thống, đầu ra không ổn định rồi thoái hóa giống... cho nên có thời kỳ, cây có múi nói chung ở đất này bị đốn hạ gần hết. Nhưng gần ba năm trở lại đây, nhờ áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong ghép giống cây trồng, canh tác theo các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP..., cùng sự hợp tác với các đầu mối tiêu thụ ổn định, uy tín, cho nên giờ cây quýt đường đã trở thành "cây hái ra tiền" cho bà con Lai Vung". Quýt đường trồng bằng kỹ thuật ghép, thời gian sinh trưởng và cho trái khá nhanh, khoảng từ 18 đến 24 tháng là có thu hoạch. Do đặc tính quýt đường là ra hoa, có trái nhiều đợt trong một năm, cho nên dù năng suất không cao và cho trái không tập trung như quýt hồng, nhưng giá cả ổn định, cho thu nhập cao. Vài năm trở lại đây, mô hình trồng quýt đường đã nhân rộng với khoảng 700 ha, Lai Vung không những đã gây dựng lại được thương hiệu "vương quốc cam quýt" một thời mà còn giúp bà con có nguồn thu nhập ổn định và nhiều nhà vườn trở thành triệu phú. Còn rất nhiều mô hình nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi, liên kết canh tác, mô hình kinh tế vườn, trang trại hiệu quả... của bà con nông dân đất miền Tây Nam Bộ. Thế nhưng, kết cho câu chuyện về chuyện "làm giàu trên đất miền Tây" của những tỷ phú nông dân miền đất "chín rồng", chúng tôi xin mượn lời tâm sự của một nông dân, cũng nguyên là lãnh đạo nông nghiệp, chính quyền tỉnh An Giang, đồng chí Nguyễn Minh Nhị, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh An Giang: Nông dân miền Tây thật năng động. Ðể ngày càng có nhiều nông dân triệu phú, tỷ phú, cần chỉ cho họ đâu có nhiều cá, đâu mua được cần câu tốt, từ đó họ sẽ nắm bắt ngay để "câu ngay, câu nhiều" những con cá lớn. Hơn 20 năm qua, cây lúa đã giúp nhiều nông dân ÐBSCL trở thành những "tỷ phú hai lúa". BẢO TRỊ, MINH TRƯỜNG và NHỰT TRUNG http://www.nhandan.com.vn/kinhte/chuyen-lam-an/item/20669602-l%C3%83%C6%92%C3%82%C2%A0m-gi%C3%83%C6%92%C3%82%C2%A0u-tr%C3%83%C6%92%C3%82%C2%AAn-%C3%83%E2%80%9E%C3%A2%E2%82%AC%CB%9C%C3%83%C2%A1%C3%82%C2%BA%C3%82%C2%A5t-t%C3%83%C6%92%C3%82%C2%A2y-nam-b%C3%83%C2%A1%C3%82%C2%BB%C3%A2%E2%80%9E%C2%A2.html

Làm giàu bằng cây rau má

Làm giàu bằng cây rau má (Dân Việt) - Dễ trồng và dễ tiêu thụ, cây rau má đã tạo sự đột phá lớn trong phát triển kinh tế của người dân xã Quảng Thọ, Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế. Từ ngày chuyển đổi 7 sào đất trồng sắn, lạc, bắp sang trồng rau má, kinh tế của gia đình ông Nguyễn Đình Lâm (thôn Phước Yên, xã Quảng Thọ), lên như diều gặp gió. “Nhờ cây rau má mà gia đình tôi từ chỗ chạy ăn từng bữa đã có của ăn của để và xây được nhà cửa khang trang”- ông Lâm phấn khởi. Người dân thôn Phước Yên thu hoạch rau má . Với 7 sào rau má, cứ 20 - 25 ngày là gia đình ông thu hoạch được một lứa rau với gần 20 tạ, bán thu được gần 10 triệu đồng. Nhiều thời điểm, nhất là mùa mưa lũ, giá mỗi kg rau má lên tới 12.000-15.000 đồng, mỗi lứa rau gia đình ông thu nhập hơn 20 triệu đồng. “Chỉ với 7 sào rau má mà mỗi năm ít nhất gia đình tôi thu được gần 100 triệu đồng, gấp 4-5 lần so với thu nhập từ sắn, lạc và lúa trên cùng diện tích” - ông Lâm cho biết. Xã Quảng Thọ hiện có gần 35ha đất trồng rau má, tập trung ở các thôn Phước Yên và La Vân Thượng. Trong đó thôn Phước Yên có 30ha với 150 hộ dân tham gia trồng, thôn La Vân Thượng có gần 5ha với 30 hộ dân trồng. Tất cả những hộ trồng rau má trên địa bàn đều có đời sống kinh tế khá giả nhờ thu nhập cao và ổn định. Bình quân, mỗi ha rau má mỗi năm cho thu nhập từ 300 - 400 triệu đồng. Ông Trần Phụ Phú - cán bộ kỹ thuật Hợp tác xã Nông nghiệp Quảng Thọ 2, cho biết, cây rau má cho thu nhập cao, lại rất dễ trồng và ít chi phí. Người trồng rau má chỉ mua giống trồng một lần trên đất, sau đó chỉ cần bỏ công, phân bón chăm sóc rồi thu hoạch từ năm này qua năm khác, vì loại rau này tái sinh rất nhanh. “Ông tổ” của nghề trồng rau má ở Quảng Thọ là ông Cao Quảng Thiện, ở thôn Phước Yên. Năm 2000, thấy người dân nhiều nơi đi nhổ rau má ngoài đồng đưa về bán với giá cao, ông Thiện liền trồng thử loại rau này trong vườn và cho kết quả tốt nên phát triển trên diện tích lớn. Từ năm 2001, người dân Quảng Thọ học hỏi và phát triển trồng đại trà cho đến nay. Hiện rau má Quảng Thọ không chỉ “làm mưa làm gió” trên thị trường rau xanh Thừa Thiên - Huế mà còn rất được ưa chuộng ở các tỉnh từ Quảng Bình đến Khánh Hòa. Để thương hiệu rau má Quảng Thọ ngày càng có uy tín, từ năm 2010, được sự giúp sức của Trường ĐH Nông lâm Huế, người trồng rau má ở đây dần chuyển hướng sang trồng rau sạch.

Anh Tống Văn Phong Làm Giàu Từ Cây Quýt Đường

Anh Tống Văn Phong Làm Giàu Từ Cây Quýt Đường Xem trước khi in In ra giấy Nguồn: Báo Đồng Tháp, 14/09/2012 Ngày đăng tin: 24/09/2012 Sự học hỏi và lòng say mê lao động đã giúp anh Tống Văn Phong (ấp Hòa Khánh, xã Vĩnh Thới, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp) thành công với mô hình trồng cây quýt đường. Mô hình cho thu nhập cao này đã đưa gia đình anh Phong vượt qua khó khăn, vươn lên làm giàu. Nhiều năm liền anh được công nhận nông dân sản xuất kinh doanh giỏi. Nhiều năm trước, khi phong trào trồng quýt hồng trong huyện phát triển, với diện tích 3.000 m2 anh quyết định đào mương lên liếp trồng 300 cây quýt hồng. Qua 2 năm canh tác, cây phát triển tốt, tuy nhiên mỗi năm có khoảng 10% số lượng cây chết. Nguyên nhân là do lúc bấy giờ thuốc bảo vệ thực vật còn khan hiếm và nông dân chưa có kinh nghiệm trong phòng trừ sâu bệnh. Đến năm thứ 3, cây chuẩn bị cho trái thì cơn lũ năm 2000 đã làm vườn quýt hồng của anh chết gần hết, lúc đó anh gần như trắng tay. Đứng trước hoàn cảnh khó khăn, anh vừa phải chạy lo vốn đầu tư sản xuất mới vừa đắn đo nên chọn cây gì cho phù hợp với vùng đất và điều kiện sản xuất. Qua theo dõi báo đài và tham quan nhiều mô hình sản xuất, cuối cùng anh chọn cây quýt đường làm cây trồng chính để phát triển kinh tế gia đình. Trước hết, anh thiết kế lại đê bao đảm bảo chống lũ, chủ động nước tưới tiêu, khâu cải tạo đất, xử lý phân bón thuốc bảo vệ thực vật, tỉa cành tạo tán, trồng dậm và loại bỏ những cây nhiễm bệnh. Anh Tống Văn Phong cho biết: “... Để có thể thành công với cây quýt đường, tôi đã nghĩ ra cách làm riêng cho mình là sản xuất theo quy trình kỹ thuật. Trong việc tiêu thụ sản phẩm, tôi chọn thời điểm xử lý ra hoa phù hợp để cho trái nghịch mùa. Tôi cũng luôn đảm bảo uy tín với khách hàng qua việc phân loại trái. Từ đây, tôi tạo được thương hiệu riêng của mình ở các chợ đầu mối trái cây trên thành phố Hồ Chí Minh. Khi thấy thùng quýt đường thương hiệu “Tư Phong” thì khách hàng rất tin tưởng, yên tâm về chất lượng...”. Nhờ sản xuất theo quy trình kỹ thuật, sản phẩm chất lượng, uy tín, 10 năm qua, đầu ra cho quýt đường của anh luôn ổn định và lợi nhuận đạt cao. Từ 3.000 m2 ban đầu, anh đã tích lũy vốn và mua thêm đất lập vườn. Đến nay, anh có 15.000 m2 diện tích vườn trồng quýt với lợi nhuận hàng năm trên 1 tỉ đồng. Trong năm 2011, anh sản xuất được 62 tấn quýt, bán với giá 27.000 đồng/kg. Tổng doanh thu gần 1,7 tỷ đồng, sau khi trừ chi phí lợi nhuận gia đình thu được trên 1,35 tỷ đồng. Bình quân 1.000 m2 vườn trồng quýt đường cho thu nhập 90 triệu đồng. Vườn quýt của anh còn giải quyết việc làm ổn định cho hàng chục lao động, với mức lương 3 triệu đồng/tháng. Với thành công trong nghề, anh đã truyền đạt kinh nghiệm cho bà con nông dân cách sử dụng các loại phân bón, thuốc bảo vệ thực vật sao cho phù hợp để tránh lãng phí và bảo vệ tốt vườn cây, hướng dẫn cách xử lý các loại sâu bệnh trên cây trồng. Ngoài ra, anh còn nhiệt tình cho mượn cây giống, bảo lãnh mua vật tư,... Với cộng đồng, anh Tống Văn Phong tích cực tham gia công tác xã hội như vận động đóng góp xây dựng cầu, đường, cất nhà tình thương... Hiện anh Tống Văn Phong là Chủ nhiệm Câu lạc bộ Khuyến nông xã, Tổ trưởng Tổ nông dân trồng quýt đường.